Giai đoạn sau thu hoạch được xem là thời điểm vàng để phục hồi sức khỏe cho cây sầu riêng. Sau một mùa vụ nuôi trái kéo dài, cây đã vắt kiệt nguồn dinh dưỡng dự trữ. Nếu không được chăm sóc đúng cách và kịp thời, cây rất dễ bị suy kiệt, nấm bệnh tấn công gây thối rễ, chết nhánh hoặc dẫn đến tình trạng mất mùa ở vụ tiếp theo. Mục tiêu cốt lõi của giai đoạn này là giúp cây nhanh chóng phục hồi bộ rễ, dọn sạch mầm bệnh và kích thích ra cơi đọt mới khỏe mạnh, đồng đều.
Ngay sau khi kết thúc đợt hái trái cuối cùng từ ba đến năm ngày, công việc đầu tiên cần thực hiện là tỉa cành và vệ sinh tàn dư. Bà con tiến hành cắt bỏ toàn bộ cuống trái còn sót lại trên cành mang trái để tránh nấm bệnh tích tụ. Tiếp theo, sử dụng kéo cắt tỉa chuyên dụng để loại bỏ các cành khô, cành sâu bệnh, cành tăm yếu ớt, cành mọc đứng bên trong thân và những cành sà sát mặt đất. Việc tỉa cành giúp tán cây thông thoáng, giảm bớt sự cạnh tranh dinh dưỡng không cần thiết và hạn chế nơi trú ngụ của sâu bệnh. Dụng cụ cắt tỉa cần được khử trùng bằng cồn hoặc nước vôi để tránh lây nhiễm nấm bệnh chéo giữa các cây.
Sau khi tỉa cành, trên cây sẽ xuất hiện nhiều vết thương hở. Đây là lúc vi khuẩn và các loại nấm gây hại như Phytophthora hay Fusarium rất dễ xâm nhập. Bà con cần tiến hành rửa cây bằng cách phun ướt đẫm toàn bộ thân, cành và lá các dòng thuốc trừ nấm có gốc Đồng, Mancozeb hoặc gốc Phosphonate. Việc này không chỉ sát trùng vết cắt mà còn giúp tẩy sạch các lớp rong rêu, nấm hồng bám chặt trên vỏ thân cây suốt mùa vụ vừa qua.
Song song với việc rửa tán, phục hồi bộ rễ là yếu tố quyết định đến sức sống của cơi đọt mới. Sau vụ thu hoạch, nhiều đầu rễ tơ của sầu riêng bị tổn thương hoặc ngộ độc phân bón. Bà con nên dùng cào xới nhẹ lớp đất mặt quanh mép tán cây để làm xốp đất, giúp rễ dễ hô hấp. Tiếp đó, hòa gốc Acid Humic kết hợp cùng Fulvic Acid hoặc phân vi sinh Trichoderma tưới đều quanh vùng tán. Humic có tác dụng giải độc đất, kích thích các đầu rễ tơ mới nhú ra nhanh chóng, còn vi sinh vật có lợi sẽ ức chế các mầm bệnh gây thối rễ tiềm ẩn dưới lòng đất.
Khi bộ rễ bắt đầu hồi phục, việc bổ sung dinh dưỡng qua đường gốc cần được triển khai ngay. Bà con tiến hành bón phân hữu cơ nở nhập khẩu hoặc phân chuồng đã được ủ hoai mục hoàn toàn bằng nấm Trichoderma. Lượng bón trung bình từ 10 đến 20 kg cho mỗi gốc tùy thuộc vào tuổi cây và năng suất của vụ trước. Phân hữu cơ cung cấp chất mùn, cải tạo độ phì nhiêu của đất và giúp cây hấp thu dinh dưỡng một cách bền vững.
Khi quan sát thấy các chồi ngủ trên cành bắt đầu nhú ra (giai đoạn nhú mũi giáo), bà con bắt đầu bón phân hóa học NPK để kích thích đọt vươn dài và mập mạp. Ở giai đoạn này, cây cần nhiều đạm để phát triển thân lá, do đó nên ưu tiên chọn các dòng phân NPK có tỷ lệ đạm cao hoặc cân bằng như 30-10-10, 20-10-10 hoặc 16-16-8. Bón phân quanh mép tán cây với liều lượng từ 0.5 đến 1.5 kg cho mỗi gốc, sau đó tưới nước nhẹ để phân tan hoàn toàn.
Về chế độ nước tưới, sầu riêng là loài vô cùng nhạy cảm. Ngay sau thu hoạch, không nên tưới quá nhiều nước đột ngột vì có thể gây sốc nước làm hỏng rễ. Tuy nhiên, khi đã bón phân kích đọt, vườn cây cần được cung cấp độ ẩm liên tục và đều đặn. Bà con nên tưới nước từ 1 đến 2 ngày một lần tùy theo điều kiện thời tiết khô hạn hay ẩm ướt. Lượng nước vừa đủ sẽ làm dung môi hòa tan phân bón, giúp cây hấp thụ nhanh và thúc đẩy cơi đọt mới đâm ra đồng loạt.
Cuối cùng, công đoạn bảo vệ cơi đọt non đóng vai trò quyết định đến thành bại của cả quá trình. Cơi đọt mới chính là bộ máy quang hợp chính nuôi cây cho mùa vụ sau. Rầy nhảy và rầy chấu là hai đối tượng nguy hiểm nhất, chúng thường chích hút làm quéo lá, rụng đọt non. Bà con phải áp dụng nguyên tắc nguyên tắc phòng ngừa sớm, tiến hành phun thuốc đặc trị rầy ngay từ khi chồi vừa nhú hạt gạo. Phun định kỳ từ 7 đến 10 ngày một lần, kết hợp thêm các chất dinh dưỡng qua lá như Amino Acid và các nguyên tố vi lượng Zinc, Magnesium để giúp lá mau dầy, màu xanh đậm và hạn chế bệnh thán thư. Tiếp tục bảo vệ cơi đọt cho đến khi toàn bộ lá non chuyển sang màu xanh bánh tẻ mới hoàn thành quy trình phục hồi cây.